Đường dây nóng: 0212.3850221

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng trong những năm tháng tại nhà tù Sơn La

Cập nhật: 06:47:37 03 / 06 / 2024
Lượt xem: 5999
Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng và hoàn thành năm 1908. Quy mô ban đầu là nhà tù hàng tỉnh để giam tù nhân thường phạm, với diện tích 1.217m2. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối, chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng dâng cao, diễn ra trong cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Hoảng hốt trước cơn bão táp cách mạng của Nhân dân Đông Dương, thực dân Pháp một mặt lập thêm nhiều đồn bốt, thẳng tay bắt giữ và giết hại hàng vạn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước. Mặt khác, chúng gấp rút xây dựng thêm hoặc mở rộng các nhà tù, trại giam để uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng, để giam giữ, tra tấn và dần thủ tiêu ý chí chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng. Trong việc xây dựng và mở rộng nhà tù, thực dân Pháp đã chú ý đến Nhà tù Sơn La.

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN LƯƠNG BẰNG TRONG NHỮNG NĂM THÁNG TẠI NHÀ TÙ SƠN LA

 

...  Tấm gương của đồng chí là giá trị tinh thần mãi mãi tỏa sáng đối với nhiều thế hệ những người cộng sản và thanh niên ta, nhân dân ta. Tinh thần cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa của đồng chí là bất diệt[1]...”

 

Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng và hoàn thành năm 1908. Quy mô ban đầu là nhà tù hàng tỉnh để giam tù nhân thường phạm, với diện tích   1.217m2.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối, chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng dâng cao, diễn ra trong cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Hoảng hốt trước cơn bão táp cách mạng của Nhân dân Đông Dương, thực dân Pháp một mặt lập thêm nhiều đồn bốt, thẳng tay bắt giữ và giết hại hàng vạn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước. Mặt khác, chúng gấp rút xây dựng thêm hoặc mở rộng các nhà tù, trại giam để uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng, để giam giữ, tra tấn và dần thủ tiêu ý chí chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng. Trong việc xây dựng và mở rộng nhà tù, thực dân Pháp đã chú ý đến Nhà tù Sơn La.

Trong bối cảnh chung đó, Nhà tù Sơn La đã mở rộng thêm 797m2 với nhiều trại giam, đặc biệt là khu xà lim ngầm sâu dưới lòng đất 3,5m. Như vậy, từ một nhà tù hàng tỉnh để giam giữ tù thường phạm, Nhà tù Sơn La đã trở thành nhà tù hàng quốc gia, chủ yếu giam cầm tù nhân chính trị.

        Đến năm 1940, thực dân Pháp cho xây dựng một trại giam mới có diện tích 170m2 với ý định giam giữ tù nhân chính trị nữ, nhưng âm mưu của chúng không thành.  

Qua 3 lần xây dựng và mở rộng, Nhà tù Sơn La có tổng diện tích là 2.184m(với 49 phòng giam diện tích lớn, nhỏ khác nhau). Cũng như các nhà tù khác của thực dân Pháp - là nơi biểu hiện rõ nhất chính sách cai trị vô nhân đạo của chính quyền thuộc địa. Thiết lập nhà tù Sơn La, thực dân Pháp âm mưu sử dụng những điều kiện sống khắc nghiệt tại Sơn La lúc bấy giờ “nước Sơn La, ma Vạn Bú” kết hợp với chế độ giam giữ tàn bạo để tiêu diệt những chiến sĩ yêu nước và cách mạng. Trái ngược với âm mưu thâm độc và thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp, Nhà tù Sơn La lại là nơi sáng ngời lên phẩm chất và nghị lực phi thường của chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam. Vượt lên hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt, những chiến sĩ yêu nước và cách mạng đã tiếp tục cuộc đấu tranh bảo vệ lý tưởng, khí tiết và phẩm giá, bảo vệ tính mạng, đòi cải thiện đời sống và tinh thần, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng[2], đào tạo, bồi dưỡng cho Đảng những chiến sỹ cách mạng xuất sắc, trong đó không thể không nhắc đến đồng chí Nguyễn Lương Bằng (Bí danh: Sao Đỏ, anh Cả Đỏ)- người con ưu tú của quê hương Thanh Miện - Hải Dương, người chiến sĩ cộng sản thuộc thế hệ cán bộ cách mạng đầu tiên của Đảng.

1. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng trước khi vào ngục Sơn La

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng sinh ngày 02-4-1904, là con trai duy nhất trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước ở thôn Đông, xã Đoàn Lâm nay là xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương[3].

Năm 1911, khi tròn 7 tuổi, Nguyễn Lương Bằng được cha mẹ cho đi học chữ Hán mà thầy khai tâm là người bác ruột.

Năm 1916, năm 12 tuổi Nguyễn Lương Bằng và gia đình chịu một tổn thất lớn, người cha sau một cơn bạo bệnh, đã sớm tạ thế khi còn trẻ, để lại người vợ trẻ và đàn con chưa đến tuổi trưởng thành. Lúc này đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống và giúp đỡ gia đình, sớm thấu hiểu nỗi khổ cực của người dân mất nước và nung nấu ý chí và quyết tâm tìm con đường cứu dân, cứu nước.

Sáng sớm đầu hè năm 1921, đồng chí đã cùng người anh họ của mình lặng lẽ rời làng, với quyết tâm “phải ra đi mới tìm được cách thoát khỏi cảnh nghèo khổ[4]”. Trong 5 năm, từ 1921-1925 là cả một thời gian dài Nguyễn Lương Bằng “sống vất vả, vừa làm vừa học, vừa xác định cho mình con đường đi tới một chân trời đầy tươi sáng”. Có thể nói truyền thống quê hương hoàn cảnh gia đình là một nhân tố quan trọng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục, xây dựng nên nhân cách ý chí của Nguyễn Lương Bằng.[5]

Năm 1925, đồng chí được giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng. Đồng chí đã được sang Quảng Châu (Trung Quốc), tham dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức, giảng dạy. Sau khi hoàn thành khóa học, đầu tháng 9 năm 1926, đồng chí bí mật rời Quảng Châu về đến Hải Phòng. Chỉ trong một thời gian ngắn, đồng chí đã thiết lập được đường dây liên lạc bằng đường thủy Hải Phòng - Hồng Công - Quảng Châu. Tuyến đường này đã đưa nhiều thanh niên yêu nước sang Quảng Châu dự các khóa huấn luyện do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tổ chức và chuyển tài liệu, sách báo về trong nước.

Do bị mật thám theo dõi, đồng chí rời Hải Phòng chuyển về hoạt động ở quê ngoại Thái Bình, rồi tìm cách bắt liên lạc với các đồng chí ở Nam bộ. Tháng 10 năm 1927 đồng chí đã bí mật vào Sài Gòn hoạt động trong kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ. Cùng với các đồng chí trong kỳ bộ, đồng chí đã gây dựng được nhiều cơ sở của Hội trong công nhân.

Tháng 12 năm 1928, theo sự phân công của tổ chức, đồng chí trở ra Hải Phòng để thiết lập một đường dây liên lạc quốc tế bằng đường biển Hải Phòng - Pari, thông qua các thủy thủ làm việc trên tàu. Nhờ đường dây liên lạc này mà nhiều sách báo, tài liệu, tin tức từ nước ngoài được chuyển về trong nước thuận lợi và an toàn.

Giữa năm 1929, đồng chí được Tổng bộ Thanh niên cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, sau đó đến Thượng Hải, để xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều và thiết lập đường dây liên lạc từ Trung Quốc về nước.

Ngày 01-5-1931, do một người trong tổ chức của ta ở Thượng Hải phản bội, đồng chí bị địch bắt, thực dân Pháp dùng mọi nhục hình để tra tấn, song chúng không khai thác được gì. Chúng giải đồng chí về Sài Gòn một thời gian, rồi lại đưa ra Hà Nội. Ở trong tù, đồng chí đã vận động anh em đấu tranh đòi cải thiện chế độ hà khắc của nhà tù, tham gia thành lập chi bộ Đảng trong tù. Cái tên Sao Đỏ được xuất hiện từ đây.

Tháng 6 năm 1932, thực dân Pháp đưa đồng chí về Hải Dương xét xử. Mặc dù không có chứng cớ, nhưng tòa án thực dân vẫn kết án đồng chí tù khổ sai chung thân và đưa về giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Không chịu khuất phục trước kẻ thù, đồng chí đã cùng anh em tù tìm cách vượt ngục. Thoát khỏi ngục tù, đồng chí trở về Hải Dương tiếp tục hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng.

Cuối năm 1933, trong một chuyến đi công tác lên Bắc Giang, đồng chí lại bị địch bắt. Tòa đề hình Bắc Giang xử đồng chí án khổ sai chung thân, đầu năm 1934 đưa về giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Đến năm 1935, đồng chí bị đày lên Nhà tù Sơn La, trong đoàn đi lần này có đồng chí Trường Chinh.[6]

 2. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng trong nhưng năm tháng tại nhà tù Sơn La

Sau hơn 10 ngày đêm di chuyển, đoàn tù gồm 50 người (chủ yếu là tù thường phạm, tù chính trị thì rất ít) đã đến nhà tù Sơn La. Trong nhà ngục Sơn La, mặc dù những tù nhân chính trị bị quản thúc rất chặt chẽ và chế độ lao dịch nặng nhọc nhưng không giảm sút tinh thần đấu tranh của anh em tù nhân. Nguyễn Lương Bằng cùng với đồng chí Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) bàn với nhau phải tổ chức cuộc sống như thế nào để bảo vệ được tính mệnh và sức khỏe cho anh em trước sự đàn áp của kẻ thù.

Về vấn đề chính trị trong nhà tù Sơn La, tù chính trị có tổ chức chi bộ nhưng dành riêng cho những người có án nhẹ, người có án nặng là cố vấn. Để lãnh đạo mọi hoạt động trong tù, các đồng chí quyết định tổ chức ra ủy ban nhà tù (Ủy ban hàng trại). Ủy ban này vừa có tính chất mặt trận, vừa là hình thức chính trị tự quản, không để cho bọn cai ngục muốn làm gì thì làm. Đó là một hình thức tổ chức mới, mà trước đây ở Hỏa Lò (Hà Nội) chưa có.[7]

        Đến nhà tù Sơn La được 8, 9 tháng, Công sứ Xanh Pulốp ra lệnh phải xiềng tù chính trị có án nặng, Nguyễn Lương Bằng kiên quyết phản đối vì vậy ông cùng một số người khác bị cai ngục đưa xuống hầm tối. Ngay khi xuống hầm, Nguyễn Lương Bằng đã vận động mọi người (chủ yếu là tù Quốc dân Đảng) đấu tranh để hoát khỏi hầm tối, nhưng phần đa mọi người đều lo sợ; ông vận động mọi người tuyệt thực, làm cho máu đổ, thậm chí phải mổ bụng để kẻ địch phải nhượng bộ, nhưng mọi người rất sợ hãi, không dám tham gia. Nguyễn Lương Bằng khẳng định, nếu mọi người không đấu tranh, ông sẽ tự mổ bụng để đấu tranh với kẻ địch.

        Nói là làm, nhưng theo từng bước để thăm dò thái độ của địch, Nguyễn Lương Bằng lấy ống bơ sữa bò cho ít nước vào trong, rồi lấy một miếng sắt tây mài sắc rạch mười đầu ngón tay cho chảy máu vào lon, để sẵn bên chỗ nằm. Đồng thời, ông lấy máu viết khẩu hiệu lên tường:

"Đả đảo chế độ hà khắc của nhà tù.

Cách mạng thành công muôn năm"[8].

Chờ khi lính ngục đưa cơm đến, trước khi chúng mở cửa, Nguyễn Lương Bằng ngậm nước máu vào mồm, trước khi ngậm nước máu, ông còn kéo lưỡi ra rạch vài cái, rồi nằm thẳng người trên sàn cho máu trào ra hai bên mồm, thấm đỏ cả cổ áo. Tên lính thấy cảnh tượng như vậy, hốt hoảng, vứt cơm chạy vội lên báo cáo với giám ngục rằng có người ở xà lim ngầm đã tự tử, chúng đã cử bác sĩ xuống kiểm tra, viên bác sĩ là người có cảm tình với Nguyễn Lương Bằng nên chỉ kiểm tra qua rồi yêu cầu phải cho tù nhân lên khỏi xà lim ngầm ngay. Cùng lúc, những người tù trên hầm cũng tuyệt thực, ủng hộ việc đấu tranh của Nguyễn Lương Bằng. Chúa ngục hốt hoảng ra lệnh đưa ông và những người tù khác ra khỏi hầm. Nhờ có tinh thần đấu tranh anh dũng và mưu trí của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, từ đó những người mang án nặng không phải chịu xiềng nữa và chế độ ở xà lim ngầm cũng không còn.

Để phòng, chữa bệnh cho anh em tù nhân, những người tù cộng sản đã tiến hành tự đào tạo y tá chữa bệnh cho nhau, trong đó có Nguyễn Lương Bằng, ngoài ra các chiến sĩ cách mạng còn lập ra tủ thuốc riêng, chính những hoạt động này đã làm giảm số người ốm và chết bệnh ở nhà tù Sơn La. Theo Hồi ký Nguyễn Lương Bằng thì trong đoàn tù hơn 60 người trong mấy tháng chỉ có 2 người bị chết. Ông cho rằng đó “là một thành tích lớn trong việc bảo vệ sức khỏe cho anh em”[9].

Sang đến năm 1936, hơn 100 tù nhân nhà tù Sơn La được thả tự do sau thắng lợi của phong trào Mặt trận Bình Dân Pháp. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng bị cai ngục đưa vào thành phần nguy hại cho chính quyền bảo hộ nên vẫn tiếp tục bị giam cầm tại Nhà tù Sơn La. Thời kỳ này, dù còn rất ít tù nhân cộng sản, nhưng các đồng chí vẫn nêu cao tinh thần cách mạng, không ngừng học tập, rèn luyện và hoạt động. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng vẫn bền bỉ làm công tác dân vận, phát triển mối quan hệ với binh lính và Nhân dân địa phương, thông qua các đoàn công nhân từ xuôi lên liên lạc với các tổ chức đảng và nhận được báo chí từ cơ sở để nắm bắt tình hình.

Khi phong trào Mặt trận Bình dân Pháp tan dã, chế độ thực dân quay trở lại, các cuộc bắt bớ, khủng bố nhân dân thuộc địa đấu tranh diễn ra dã man hơn. Thực dân Pháp phát huy tối đa các nhà tù thuộc địa, trong đó có nhà tù Sơn La. Từ năm 1939, rất nhiều tù nhân là lãnh đạo các phong trào quần chúng tiếp tục bị bắt và bị đày lên Sơn La. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã báo cáo lại tình hình cách mạng địa phương cho anh em nghe. Kinh nghiệm qua thời kỳ hoạt động cách mạng và đấu tranh sinh tử với kẻ thù trong nhà lao thực dân đã rút ra một kinh nghiệm dù có khó khăn đến mấy cũng phải gấp rút thành lập được một chi bộ cộng sản để lãnh đạo, đấu tranh có tổ chức thì mới hiệu quả.

Trên tinh thần đó, tháng 12/1939, các đảng viên trong Nhà tù Sơn La đã họp và bí mật thành lập Chi bộ nhà tù Sơn La lâm thời gồm 10 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng được cử làm Bí thư Chi bộ[10]. Do yêu cầu ngày càng cao đối với các hoạt động trong tù, tháng 2/1940, Chi bộ lâm thời chuyển thành Chi bộ chính thức. Theo đề nghị của đồng chí Tô Hiệu, chi bộ nhất trí cử đồng chí Trần Huy Liệu giữ chức vụ Bí thư và đồng chí Tô Hiệu là Chi ủy viên. Tất cả mọi hoạt động của Chi bộ yêu cầu phải tuyệt đối giữ bí mật. Tháng 5/1940, chi ủy đã triệu tập Đại hội để thảo luận quyết định các chủ trương công tác và bầu đồng chí Tô Hiệu làm Bí thư Chi bộ. Đại hội đã đề ra 5 công tác lớn:

Thứ nhất, Chi bộ lãnh đạo hoạt động toàn diện của nhà tù.

Thứ hai, Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên và quần chúng.

Thứ ba, Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện đảng viên về lí luận Mác-Lênin và phương pháp đấu tranh cách mạng trong nhà tù

Thứ tư, Xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng cách mạng bên trong và bên ngoài nhà tù.

Thứ năm, Tìm mọi cách bắt liên lạc với Xứ ủy và Trung ương Đảng để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên đối với chi bộ nhà tù.

Chi bộ ra đời, đề cao việc cải thiện đời sống vật chất cho tù nhân, vì vậy, hoạt động của Ban Kinh tế được chú trọng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, ban đã giành được quyền nấu ăn trên nhà bếp, khôn khéo nắm bắt kho thóc, cân đong khẩu phần để tiêu chuẩn của anh em không còn bị nhà thầu bớt xén như trước. Ngoài giờ lao động khổ sai, anh em tổ chức tăng gia sản xuất, trồng được nhiều rau xanh để nộp cho thực dân Pháp, cải thiện bữa ăn cho tù nhân, có khi còn biếu bà con làm công tác dân vận. Bên cạnh đó, đồng chí còn lãnh đạo Ban Kinh tế tổ chức làm hàng thủ công mỹ nghệ như đan rổ, rá, làm guốc mộc,... khi có dịp đem bán ở phố chợ Chiềng Lề. Tiền có được chia theo tỉ lệ: Nộp quỹ kinh tế sử dụng chung: 25%; nộp quỹ cứu tế: 15%, người làm ra sản phẩm được hưởng: 60%. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, Ban kinh tế tổ chức tăng gia, chăn nuôi và các nghề phụ ngày càng phát triển trở thành nguồn thu nhập lớn của tập thể tù chính trị. Năm 1942, Quỹ Kinh tế nhà tù lên tới 4.000 đồng tiền Đông Dương, góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho anh em tù nhân.

Chiếc hộp đựng tiền của Chi bộ - Hiện vật đang lưu giữ tại Bảo tàng Sơn La

Ban kinh tế hoạt động hiệu quả, thuốc chữa bệnh được mua dự trữ. Những đồng chí ốm nặng hay vừa ốm dậy hoặc vì đấu tranh bị bắt giam ở hầm ngầm thì được hưởng chế độ bồi dưỡng đặc biệt, ăn cơm “cứu tế” ngoài 2 bữa ăn còn được ăn thêm đường, sữa. Ban cứu tế có tủ thuốc riêng do đồng chí Nguyễn Lương Bằng (Sao đỏ) phụ trách. Đồng chí Sao đỏ là người có kinh nghiệm phòng và chữa bệnh, giúp nhiều người thoát khỏi bệnh hiểm nghèo. Nếu trong những năm 1930-1939, cứ trung bình 1 tháng có 1 người chết thì trong 5 năm 1940-1945 chỉ 07 người chết. Điều đó chứng tỏ việc cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe do chi bộ nhà tù tổ chức đã đạt được những thành công đáng kể, góp phần vào thành công của quá trình đấu tranh cách mạng trong nhà tù.

 Cùng với việc lãnh đạo các hoạt động trong tù, Chi bộ nhà tù Sơn La cũng chủ trương và thực hiện công tác tuyên truyền đối với công nhân và Nhân dân trong vùng. Sau nhiều lần quan sát, Nguyễn Lương Bằng đã bắt liên lạc được với một số công nhân và gây dựng được cơ sở trong nhà máy điện, ông đã nhờ những người này nhận báo từ Hà Nội gửi lên và tìm cách chuyển đến nơi bí mật, nhờ đó mà Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí trong tù vẫn biết được tình hình cách mạng ở nhiều nơi, đồng thời nắm bắt và hiểu được được chủ trương của Đảng; ông và các tù nhân khác đã phấn khởi và tin tưởng vào chiến lược cách mạng của Đảng. Nguyễn Lương Bằng như được tiếp thêm sức mạnh để làm tốt hơn nữa các hoạt động hàng ngày của chi bộ nhà tù cũng như tích cực chuẩn bị cho kế hoạch trở về hoạt động cách mạng vẫn hằng nung nấu.

3. Nguyễn Lương bằng với cuộc đấu tranh trong nhà tù

Trong những năm tháng ở ngục Sơn La, đồng chí Nguyễn Lương Bằng với sự khôn khéo, dũng cảm đầy mưu lược của mình đã cùng với anh em tù nhân tổ chức đấu tranh với cai ngục dưới nhiều hình thức để đòi quyền lợi cho tù nhân. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến cuộc đấu tranh tuyệt thực 12 ngày đêm diễn ra vào tháng 5 năm 1941.

Nhân việc Giám ngục thực hiện chính sách tăng cường khủng bố, tăng định mức khoán trong các công việc khổ sai, đánh vô cớ kíp xe nước và phạt hầm tối. Chi bộ quyết định tổ chức một cuộc đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực để đòi lại một số quyền lợi cho tù nhân và đưa tù nhân lên khỏi hầm ngầm[11].

Dưới sự chỉ đạo của Chi bộ, một Ủy ban đấu tranh được thành lập trong đó có các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đình Long, Trần Đức Quảng, Trần Huy Liệu, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Phi Vân do đồng chí Trần Huy Liệu làm trưởng ban[12]

 Như kế hoạch đã định, trưa ngày 13/5/1941, khi đi lao động khổ sai về, cơm đã được bày ra sân nhưng anh em tù nhân không ăn. Đồng chí Trần Đình Long[13] đã đứng lên tuyên bố với giám ngục: "Chúng tôi tuyệt thực và không đi làm để phản đối ông Công sứ đánh đập, bắt giam hầm Cát xô mấy người xe nước một cách vô lý".

Tuy nhiên, khi ta tuyên bố nhịn ăn, tên công sứ Cút xô đã lập tức ra lệnh cho bọn lính dồn 156 tù nhân xuống hầm ngầm. Sau khi khóa chặt cửa, hắn ra lệnh "Không để lọt một hạt cơm, giọt nước vào hầm ngầm. Nếu ai trái lệnh sẽ bị bắn ngay!". Hắn còn hăm dọa sẽ lấy gạch xây lấp cửa hầm.

          Sự việc xảy ra hoàn toàn khác với dự kiến của ta, cục diện đấu tranh thay đổi hẳn, ta chỉ tuyên bố nhịn ăn, nhưng kẻ địch bắt nhịn uống và giam chặt dưới hầm ngầm. Hầm ngầm vốn ẩm ướt lạnh lẽo nay biến thành một lò nung nóng bức, nhiều đồng chí phải cởi hết quần áo, đứng áp vào tường đá cố lấy một chút hơi mát.

Trong 3 ngày đầu, tù nhân không có một giọt nước, hạt cơm nào. Đêm thứ 3, đồng chí Tô Hiệu bí mật tiếp tế được một ống nước và vài miếng đường phèn mà Nhân dân phố chợ Chiềng Lề ủng hộ.Tuy rất ít ỏi nhưng lúc này thật là quý báu với tù nhân ở dưới hầm ngầm vì đó là sự cổ vũ lớn lao, thắm tình đồng chí, nặng nghĩa đồng bào. Đến ngày thứ 4 - 5 tù nhân đã đồng thanh hò la "Nước, Nước" bằng cả tiếng Pháp và tiếng Việt. Một người lính gác lợi dụng đêm khuya đã múc mỗi đêm một thùng nước tiếp tế cho anh em tù nhân. Hành động dũng cảm của người lính tốt bụng đã cổ vũ tinh thần anh em.

Sang đến ngày thứ 7, thấy sức lực anh em tù nhân đã giảm sút nghiêm trọng vì thiếu ăn, thiếu uống nên Chi bộ đã bàn bạc quyết định tạm dừng cuộc đấu tranh. Nhưng cai ngục ra lệnh phạt giam thêm 5 ngày nữa và cho lính lấy nước bẩn chảy từ trên đồi xuống để tù nhân uống, đưa cơm cứng cho tù nhân ăn với âm mưu để tù nhân thiệt mạng vì bệnh đường ruột. Nhưng tù nhân kịch liệt phản đối không ăn thứ cơm và uống thứ nước đó. Trước tình đó Cut xô phải nhượng bộ đưa tù nhân ra khỏi hầm ngầm.

Cuộc đấu tranh kéo dài suốt 12 ngày đêm nhưng không một ai hy sinh, cuộc đấu tranh gây được tiếng vang lớn. Tuy không đạt hiệu quả cao như mong muốn nhưng đây cũng là một bài học kinh nghiệm sâu sắc để chi bộ Nhà tù Sơn La tổ chức các cuộc đấu tranh sau này.

4. Nguyễn Lương Bằng với cuộc vượt ngục năm 1943

Năm 1943, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, phong trào cách mạng nước ta đang phát triển mạnh mẽ, rầm rộ, đòi hỏi nhiều đảng viên có kinh nghiệm, có uy tín để lãnh đạo phong trào cách mạng. Sau các cuộc càn quét, bắt bớ của thực dân Pháp, nhiều lãnh đạo cốt cán của Đảng bị cầm cố trong các nhà tù. Do đó, việc bố trí đưa một số cán bộ ra khỏi nhà tù đế quốc, trở về tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng là yêu cầu cấp thiết của Đảng ta lúc bấy giờ.

Chi bộ nhà tù Sơn La đã chủ trương tổ chức đưa một số đồng chí vượt ngục về xuôi tiếp ứng phong trào.

Trước hết, chi bộ đã đề ra tiêu chuẩn để lựa chọn:

1. Tinh thần kiên định, mưu trí, sức khỏe tốt.

2. Những đồng chí có năng lực và tín nhiệm mà Đảng đang rất cần, nhất là các đồng chí xuất thân từ thành phần giai cấp công nhân.

3. Có ý thức tổ chức kỷ luật cao, thận trọng.

Ngoài các tiêu chuẩn trên, Chi ủy cũng quan tâm đến những đồng chí bị giam cầm lâu ngày trong tù, cần được ưu tiên ra ngoài hoạt động. Chi bộ cũng nhận định rằng nhân tố quyết định thành công của cuộc vượt ngục là phải có người dẫn đường. Chi bộ đã xem xét và quyết định chọn anh Lò Văn Giá[14], một thanh niên người Thái, hoạt động trong tổ chức Thanh niên cứu quốc.

Chi bộ đã thông qua kế hoạch vượt ngục và danh sách gồm 03 đồng chí: Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và Nguyễn Tuấn Đáng (tứcTrần Đăng Ninh). Bởi vì, ngoài các tiêu chuẩn nói trên, 02 đồng chí Trân và Hiểu biết nói tiếng Thái, có quan hệ chặt chẽ với tổ chức Thanh niên cứu quốc Mường La, có kinh nghiệm sử dụng sơ đồ, sa bàn, thông thạo đường đi, lối lại…

Sắp đến ngày vượt ngục, đồng chí Nguyễn Lương Bằng (Sao Đỏ) đề nghị chi bộ xin vượt ngục, lúc này sức khỏe rất yếu nhưng trước sau vẫn kiên trì đề nghị "Vô luận thế nào, các đồng chí không tổ chức vượt ngục thì thôi, đã tổ chức thì phải để tôi tham gia. Tất cả mọi khó khăn, nguy hiểm, các đồng chí chịu đựng được thì tôi cũng chịu đựng được, cùng nữa phải hy sinh giữa đường cũng phải chịu". Chi bộ đã đồng ý với đề nghị của đồng chí Sao Đỏ[15].

Tháng 8 năm 1943, khi các công việc chuẩn bị đã hoàn tất, nhận thấy cơ hội vượt ngục đã chín muồi, đồng chí Nguyễn Lương Bằng bàn với chi ủy chi bộ nhà tù tìm cách vượt ngục theo chủ trương của Đảng.

Sáng ngày 03/8/1943, đoàn tù vượt ngục đã được chi bộ bố trí tráo đổi với 4 tù nhân lao động tự giác, khi ra ngoài lao động đã bỏ trốn ra địa điểm hẹn với anh Giá. Theo kế hoạch, đoàn tù vượt ngục sẽ đến bến phà Tạ Chan để vượt sông Đà sang tỉnh Yên Bái về chiến khu Vần - Hiền Lương (Phú Thọ). Nhưng khi đến đây, nước sông Đà dâng cao lại chảy xiết, không thể đợi lâu được nên các đồng chí quyết định đổi hướng đi theo đường số 41 (nay là quốc lộ 6). Đoàn tù vượt ngục chia làm 02 nhóm: Đồng chí Sao Đỏ và Trần Đăng Ninh mặc quần áo người kinh, mang thẻ thuế thân người kinh; đồng chí Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và anh Giá mặc quần áo người Thái, mang thẻ thuế thân người Thái. Mỗi nhóm đi cách nhau 100m, mọi người phải hết sức bí mật, cảnh giác trong khi tiếp xúc với những người lạ mặt, thống nhất với nhau một câu trả lời với bọn phìa, tạo địa phương khi chúng xét hỏi: ‘‘Chúng tôi từ Phù Yên đi Tạ Khoa đến Mộc Châu để mua hàng của bà Cả Thịnh’’. Trong khi nhóm của đồng chí Trân đi trót lọt thì nhóm của đồng chí Sao Đỏ bị phìa Yên Châu hỏi thẻ thuế thân và các giấy tờ đi đường khác, may nhờ đủ giấy tờ họp lệ và trả lời giành rọt mà 2 đồng chí mới thoát khỏi Yên Châu và theo kịp nhóm trước.

Vượt qua Yên Châu, Mộc Châu, đến ngày thứ 5 của cuộc hành trình, đoàn đến đèo Pu Luông. Ngay hôm đó, lệnh truy nã 04 tù nhân vượt ngục của thực dân Pháp cũng vừa tới Pu Luông.

Lệnh truy nã 4 tù nhân vượt ngục ngày 03/8/1943 có nội dung: Treo thưởng rất lớn cho ai bắt được 04 tù nhân cộng sản vượt ngục, nếu ai trái lệnh, chứa chấp những kẻ phạm pháp sẽ bị trừng trị.

Cuộc truy lùng 04 tù nhân của chính quyền các địa phương ngày càng ráo riết. Trên đường tới Suối Rút (Hòa Bình), đến bản Bông, đoàn bị tên tạo Mộc Hạ đang truy tìm 4 người tù vượt ngục, chặn đường hỏi: "Các anh đi đâu ? Giấy tờ hộ thân đâu". Mọi người bình tĩnh trả lời, xuất trình thẻ căn cước nên hắn để cho anh em tiếp tục lên đường.

Hôm đó, nhóm đồng chí Trân, Hiểu và Giá đến Suối Rút trước, còn nhóm đồng chí Sao Đỏ đến sau. Năm anh em gặp nhau, vui mừng khôn xiết, quyết định ăn mừng bằng bữa cơm liên hoan. Ăn uống xong, đồng chí Trân và Hiểu tập trung tiền, thuốc men trao cho anh Lò Văn Giá, khuyên anh Giá không nên về nhà vội mà hãy tạm lánh lên vùng rẻo cao để dạy học cho đồng bào Mông một thời gian, để chờ tình hình yên ổn, bắt được liên lạc với chi bộ nhà tù Sơn La rồi mới quay lại Mường La. Anh Giá bình tĩnh trả lời: "Các anh cứ yên tâm, không phải lo cho tôi. Tôi đã có cách xử lý, chỉ mong các anh đi chót lọt là tôi mừng[16]".

Giờ phút chia tay giữa 4 người tù vượt ngục và anh Lò Văn Giá thật cảm động.

Phút chia tay cảm động của 4 người tù vượt ngục và anh Lò Văn Giá

Phù điêu - Tác giả:

Trong cuốn "Hai lần vượt ngục", đồng chí Trần Đăng Ninh đã chia sẻ:"Anh thanh niên Thái đưa chúng tôi đến đây là hết phận sự. Chúng tôi cùng anh từ biệt, bùi ngùi cảm động. Thuyền xa, chúng tôi còn nhìn theo người Thanh niên Thái và khắc tên Giá của anh vào lòng…"

 

Đoàn vượt ngục thành công đã bắt được liên lạc với Trung ương Đảng. Trung ương Đảng đã cử đồng chí Bình Phương làm liên lạc với Chi bộ nhà tù Sơn La, đồng thời tìm mọi cách để tuyên truyền cách mạng và gây dựng cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù. Lấy địa điểm Cây đa Bản Hẹo là nơi liên lạc và trung chuyển tài liệu. Đồng chí cũng được giao nhiệm vụ truyền đạt một số chủ trương quan trọng của Trung ương Đảng[17].

Nhận được Chỉ thị của Trung ương Đảng trong thời điểm này là vô cùng quan trọng với chi bộ Nhà tù Sơn La. Từ năm 1943 trở đi, Chi bộ Nhà tù Sơn La đã được Trung ương Đảng công nhận là chi bộ chính thức, đặc biệt, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, chi bộ trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở Sơn La.

Kết luận

Đương đầu với những cuộc tra tấn dã man của quân thù đồng chí Nguyễn Lương Bằng không hề nao núng, một dạ trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, với Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân, nêu cao khí tiết cách mạng. Sao Đỏ đã chiếu sáng chói lọi đối với những người cách mạng và là mối khiếp sợ của kẻ thù. Mặc dù biết bao thủ đoạn gian xảo và độc ác chúng không thể nào lay chuyển một chiến sĩ cộng sản gan vàng dạ sắt, qua hơn 10 năm bị giam cầm ở nhà tù, trải qua mọi thử thách của cuộc khủng bố trắng, thiếu thốn, bệnh tật đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên cường bất khuất và lãnh đạo các đồng chí của mình, đấu tranh ngày càng mạnh mẽ chống quân thù và bọn phản bội[18].

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng nổi lên như một “hiện tượng tượng đặc biệt” tại Nhà tù Sơn La. Ổng là một trong những tù nhân bị tù lâu nhất tại đây (hơn 9 năm, từ tháng 5/1935 - 8/1943), trải qua 3 giai đoạn phát triển của lịch sử  nhà tù: 1930-1936, 1936-1939, 1939-1945. Ông đã cùng với các đồng chí của mình tổ chức và duy trì nhiều hình thức đấu tranh với cai ngục ngay tại nhà tù - nơi được coi là “thành lũy” của chế độ thực dân. Sự hình thành, quá trình hoạt động của Hội đồng thống nhất, Ủy ban hàng trại, Ban trật tự trong, Ban trật tự ngoài, Ban kinh tế, Tổ hồng thập tự.. và cuối cùng là Chi bộ, tất cả đều gắn với tên tuổi của đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Ông là một trong 04 người tù cộng sản tham gia cuộc vượt ngục thành công duy nhất tại Nhà tù Sơn La và hòa mình ngay vào phong trào đang sục sôi của Cách mạng Việt Nam.

Ông cũng là người có công lớn trong việc đấu tranh cải thiện đời sống của nhà tù, đào tạo rất nhiều cán bộ cốt cán cho Đảng, cung cấp cán bộ cho phong trào cách mạng ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, là tiền đề để cách mạng Việt Nam đi đến mọi thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX./.

[1] Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính Phủ đọc tại lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng, tối ngày 23-7-1979, tại hội trường Ba Đình, Anh cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb chính trị quốc gia, tr 14.

[2] Chi bộ nhà tù Sơn La giá trị lịch sử và hiện thực, Nxb chính trị quốc gia sự thật, tr 39

[3] Bố là ông Nguyễn Lương Thiện (1870-1916), đậu khóa sinh, nên dân làng thường gọi là ông khóa Thiện. Mẹ là bà Ngô Thị Tý (1877-1940) là một người phụ nữ nông thôn thuần phác, xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Ông bà sinh được  4 người con gồm: Nguyễn Thị Kinh (1891-1979), Nguyễn Thị Nhỡ (mất sớm), Nguyễn Thị Lan (1898-1998) và Nguyễn Lương Bằng.

[4] Nguyễn Lương Bằng - Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, tr 28

[5] Nguyễn Lương Bằng - Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, tr 33

[6]  Anh cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb chính trị quốc gia , tr 87

[7] Anh cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb chính trị quốc gia , tr 89

[8] Nguyễn Lương Bằng - Tiểu sử, Sđd, tr 94

[9] Hồi ký Nguyễn Lương Bằng, Sđd, tr102

[10] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 1 (1939-1954), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 47

[11] Năm 1930, thực dân Pháp đã cho xây dựng khu xà lim ngầm sâu trong lòng đất là 3,5m, diện tích 110m2 với 5 xà lim cá nhân, 2 xà lim tập thể, một phòng hỏi cung.  Xà lim cá nhân có sàn nằm dài 1,6m, rộng 60cm, cuối sàn nằm gắn cùm chân, đầu bệ nằm chúng cho khoét một hốc liền kề với bục, phía trên để cơm, nước uống; phía dưới để bô đựng phân. Mỗi xà lim cá nhân chỉ có một lỗ thông hơi ở phía sát trần có gắn song sắt và lưới mắt sàng nhìn ra đường lính đi tuần. Khi cánh cửa gỗ đóng lại thì mỗi xà lim cá nhân trở thành một cái hộp kín, tù nhân phải nằm co và cũng khó phân biệt ngày và đêm. 02 xà lim tập thể ở hai đầu, trong đó có một xà lim tối. Xà lim tối không có lỗ thông hơi, tường được sơn bằng hắc ín, chỉ có một cửa ra vào. Mỗi khi cánh cửa sắt khép lại phòng giam sẽ trở thành một hộp kín không phân biệt được ngày hay đêm, chúng dùng để giam những tù nhân mà chúng cho là đặc biệt nguy hiểm.

[12] Suối reo năm ấy (hồi ký cách mạng), Nxb văn hóa Thông tin, 1993, tr 124, 125.

[13] Sau này phụ trách công tác đối ngoại trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa

[14] Anh Lò Văn Giá sinh năm 1919, quê ở bản Cọ, Mường La (nay là thành phố Sơn La), mồ côi cả cha lẫn mẹ, được chú thím nuôi ăn học trở thành hương sư, đã có vợ và 2 con nhỏ. Anh Giá thông minh, dũng cảm, có tinh thần yêu nước, nhiệt tình cách mạng, giỏi cả tiếng Mông và rất thông thạo vùng địa hình Tây Bắc.

[15] Di tích lịch sử cách mạng nhà tù Sơn La, Nxb Văn hóa dân tộc, 2009, tr 34

[16] Di tích lịch sử cách mạng nhà tù Sơn La, Nxb Văn hóa dân tộc, 2009, tr 35, 36

 

[17] Một là Quân đội Liên Xô và các nước đồng minh sẽ thắng. Đức, Nhật, Pháp ở Đông Dương sẽ đánh nhau, lúc đó thời cơ giành chính quyền sẽ xuất hiện, ta phải chuẩn bị lực lượng đón thời cơ. Hai là Chi bộ Nhà tù Sơn La có 02 nhiệm vụ: Thứ nhất, có tổ chức cho một số cán bộ vượt ngục để bổ sung cán bộ cho phong trào; thứ hai là gây dựng cơ sở cách mạng ở vùng Tây Bắc, phát triển du kích ở nhiều nơi.

[18] Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính Phủ đọc tại lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng, tối ngày 23-7-1979, tại hội trường Ba Đình, Anh cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb chính trị quốc gia, tr 12.

 

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 20
Hôm qua : 400
Tháng này : 1051
Tổng truy cập : 4781070
Đang trực tuyến : 6