Đường dây nóng: 0212.3850221

Truyền thống gia đình hun đúc ý chí cách mạng của chiến sĩ cộng sản kiên trung Trần Quý Kiên

Cập nhật: 09:45:15 07 / 05 / 2025
Lượt xem: 2511

Đồng chí Trần Quý Kiên (1911-1965) tên thật là Đinh Xuân Nhạ, còn bí danh khác là Dương Văn Ty, quê ở thôn Phượng Vũ, Xã Nguyễn Huệ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Quá trình hoạt động cách mạng đồng chí từng bị thực dân Pháp tù đày 11 năm tại các nhà tù: Nhà tù Sơn La, Nhà tù Hải Phòng, Nhà tù Hỏa Lò, Nhà tù Yên Bái. Ông có công lao to lớn trong công cuộc cách mạng giành chính quyền ở tỉnh Sơn La, công cuộc khôi phục Thành ủy Hà Nội và thành lập các Đảng bộ, chi bộ các tỉnh lân cận.

Xin thông tin bài phát biểu của ông Trần Quyết Chiến - con trai nhà cách mạng Trần Quý Kiên, phát biểu tại Tọa đàm khoa học “95 năm thành lập Đảng bộ Thành phố Hà Nội, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử (17/3/1930 - 17/3/2025)”

 

Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, từng bước thôn tính đất nước ta. Trước sự xâm lược của ngoại bang, truyền thống yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc ta lại một lần nữa trỗi dậy mạnh mẽ. Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các nhà yêu nước tiền bối diễn ra liên tục, nhưng cuối cùng đều bị đàn áp và không thành công . Nhân dân ta sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Hàng loạt nhà cách mạng, tinh hoa yêu nước đã không ngừng tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc.

Các tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó có gia đình ông Trần Quý Kiên (tức Đinh Xuân Nhạ), sống trong hoàn cảnh bị thực dân, đế quốc xâm lược và mang thân phận người dân mất nước.

Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, nhưng quê gốc của ông Trần Quý Kiên là làng Dực, tổng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). Đây là một mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng và chống giặc ngoại xâm. Gia đình ông là một gia đình có truyền thống yêu nước, hiếu học và chăm chỉ lao động. Cha ông là thợ giỏi, phụ trách một nhóm thợ khi xây dựng cây cầu Long Biên nổi tiếng vào năm 1898; mẹ và các chị tần tảo buôn bán nhỏ nuôi cả gia đình. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, các anh chị em đều nung nấu lòng căm thù đế quốc Pháp. Gia đình ông Trần Quý Kiên có 6 người tham gia đấu tranh chống Pháp, trong đó nổi bật là ông Trần Quý Kiên và người em rể của ông, là Bùi Vũ Trụ. Hai anh em ông đã sớm tham gia các hoạt động yêu nước từ những năm 1928-1929, và nung nấu quyết tâm dấn thân vào con đường đấu tranh chống áp bức, bất công, giải phóng đồng bào.  

Đúng vào thời điểm người thanh niên giàu nhiệt huyết Trần Quý Kiên 19 tuổi, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930, tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Được truyền cảm hứng bởi lý tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được giác ngộ, hai anh em Trần Quý Kiên và Bùi Vũ Trụ đều vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 ngay khi Đảng mới thành lập. Hai ông đều là những Đảng viên thế hệ đầu tiên của Đảng Cộng sản. Có thể thấy, chính nền tảng, truyền thống yêu nước của quê hương, của gia đình đã nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với dân tộc của người thanh niên Trần Qúi Kiên và thúc đẩy ông đến với lý tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và trở thành một trong những đảng viên thế hệ đầu tiên của Đảng. Lòng yêu nước hòa quyện bền chặt với lý tưởng công sản của ông bắt đầu từ đó.

 

Ngay sau khi gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 5 năm 1930, ông Trần Quý Kiên đã được phân công làm nhiệm vụ trong 'Đội Tuyên truyền Xung phong' của Thành ủy Hà Nội (gồm có ba người: Trần Quý Kiên, Giang Đức Cường và Lê Đình Tuyển). Đội đã cùng với một số đảng viên là người của Hà Đông - Sơn Tây tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng của Đảng trong các tầng lớp nhân dân, tập hợp quần chúng, mở rộng và phát triển cơ sở cách mạng không chỉ ở địa bàn Hà Nội mà còn ở cả một số vùng của Hà Đông và Sơn Tây. Có thể nói, đây chính là "tổ chức tiền thân" của Ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội sau này.

Ngày 11/10/1930, để kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, ông Trần Quý Kiên phụ trách một nhóm tuyên truyền xung phong rải truyền đơn, treo cờ đỏ, biểu ngữ, diễn thuyết tuyên truyền cách mạng trước cổng trường Bách Nghệ trên phố Carreau (phố Lý Thường Kiệt ngày nay). Thực dân Pháp vây bắt Trần Quý Kiên, chúng giam ông tại nhà tù Hỏa Lò và tuyên án ông 10 năm tù khổ sai rồi đày đi Sơn La.

Với truyền thống yêu nước, căm thù giặc, tinh thần trách nhiệm của chiến sĩ cộng sản, phẩm chất trung thành, gan dạ, chế độ hành hạ tàn bạo, khắc nghiệt của nhà tù thực dân đã không làm cho ông Trần Quý Kiên sờn nhụt ý chí chiến đấu. Ông đã cùng với các vị tiền bối ưu tú của Đảng nêu cao tình yêu Tổ quốc, bất khuất chống lại các chế độ nhục hình bạo tàn của thực dân cướp nước. Ngày 21/12, ngay trước lễ Noel năm 1931, Trần Quý Kiên đã cùng các ông Lê Duẩn, Khuất Duy Tiến, Lê Thanh Nghị… đấu tranh "lưu huyết" với giặc Pháp ở nhà lao Hải Phòng, làm thất bại âm mưu của đế quốc Pháp đưa tù nhân ra Côn Đảo (9 đồng chí đã dũng cảm hy sinh, về với đất mẹ). Năm 1932, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), ông Trần Quý Kiên cùng các ông Trường Chinh, Bùi Vũ Trụ, Trần Bảo… làm báo cách mạng tại nhà tù Hỏa Lò, tuyên truyền cách mạng và giúp anh em đồng chí giữ vững ý chí, khí phách không sờn lòng trước những gian truân, đầy ải trong địa ngục tù đầy của đế quốc Pháp. Năm 1933, bị giam giữ tài Nhà đày Sơn La, các ông Trần Quý Kiên, Lê Duẩn, Trường Chinh, Khuất Duy Tiến, Trịnh Đình Cửu… bị công sứ Sơn La Saint-Poulot liệt vào nhóm 22 tù nhân "đích thực cộng sản, nguy hiểm, cầm đầu các phong trào phản loạn" tại nhà tù Sơn La. (Lâm Sơn chướng khí cộng với chế độ hà khắc của nhà tù đã làm 30 tù nhân hy sinh). Hai anh em ông Trần Quý Kiên và Bùi Vũ Trụ sốt, đi tiểu tiện ra máu, kiệt sức, cận kề cái chết, song, vẫn một lòng kien trung với Đảng. Năm 1935-1936, Trần Quý Kiên, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Bùi Vũ Trụ… bị đưa lên giam tại nhà tù Sơn La 'lần thứ hai'. Dựa vào chi bộ Đảng từ Hỏa Lò lên, các ông đã thành lập một chi bộ Đảng 'bí mật' tại nhà tù Sơn La (đứng sau chỉ đạo hội đồng Thống Nhất tổ chức đời sống cho tù nhân và đấu tranh chống lại sự đàn áp khắc nghiệt trong tù của thực dân Pháp). Trong Hội đồng Thống Nhất, ông Trần Quý Kiên được phân công trưởng ban Hợp tác xã chăm lo đời sống cho anh emg ..

 

Tháng 7/1936, do sức đấu tranh của nhân dân ta và ảnh hưởng của cuộc chống phát xít trên thế giới, ôngTrần Quý Kiên được trả tự do. Sau 6 năm bị thực dân Pháp giam cầm, ngay khi thoát khỏi nhà tù đế quốc, ông đã lập tức tham gia hoạt động cách mạng, góp xây dựng lại lực lượng của Đảng và cách mạng ở Bắc Kỳ.

Giữa tháng 8 năm 1936, ba người Trần Quý Kiên, Nguyễn Văn Cừ (từ năm 1938 đến năm 1940 là Tổng Bí thư) và Nguyễn Văn Minh (một đảng viên vừa tốt nghiệp trường Đảng Phương Đông ở Nga về) thành lập ra Ủy ban Sáng kiến, là cơ quan lãnh đạo 'lâm thời' của Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội. Nhiệm vụ của ủy ban này là khôi phục cơ sở cách mạng, củng cố tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ, bắt mối với các đồng chí ở tù về quy tụ nhau lại tiếp tục hoạt động. Cuối năm 1936, đầu năm 1937, Ủy ban đã quy tụ được mấy chục anh em, những cốt cán, những hạt giống quý giá của Đảng. Ông Trần Quý Kiên được Ủy ban Sáng kiến phân công cùng Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Minh phụ trách công tác chắp nối liên lạc với các đồng chí ở Trung Kỳ, đồng thời trực tiếp tham gia khôi phục và phát triển các cơ sở Đảng ở Hà Nội và các vùng phụ cận. Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Sáng kiến, các tổ chức Đảng được lập lại ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định… Lực lượng của Đảng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng. Tháng 3 năm 1937, ông Trần Quý Kiên cùng với ông Nguyễn Văn Cừ và ông Đặng Xuân Khu (tứcTrường Chinh sau này là Tổng Bí thư) cùng các đồng chí khác mở cuộc họp tái thành lập Xứ ủy Bắc Kỳ. Cũng vào tháng 3 năm 1937, ông cùng với ông Lương Khánh Thiện… tham gia tái lập Thành ủy Hà Nội. Sau khi Xứ ủy Bắc Kỳ được tái lập, các xứ ủy viên Trần Quý Kiên, Hoàng Quốc Việt được Xứ ủy cử xuống trực tiếp tăng cường công tác khôi phục tổ chức Đảng ở Hải Phòng. Tháng 4 năm 1937, tại ngõ đá, phố Cát Dài, Hải Phòng, ông Trần Quý Kiên cùng Nguyễn Văn Linh (sau này là Tổng Bí thư)… tổ chức cuộc họp thành lập lại Thành ủy Hải Phòng. Sau đó, ông Trần Quý Kiên trực tiếp mở cuộc họp thành lập chi bộ nhà máy xi măng Hải Phòng và trực tiếp củng cố, tổ chức xây dựng lại chi bộ Đảng nhà máy tơ Hải Phòng.

Tháng 11/1937, ông tham gia thành lập Liên Xứ Ủy Bắc Kỳ - Bắc Trung Kỳ. Năm 1938, Thành ủy Hà Nội 'kiện toàn', ông Trần Quý Kiên được bầu vào Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ - Bí thư Thành ủy Hà Nội. Là người con của thành phố Hà Nội, với truyền thống yêu nước của gia đình, với lòng căm thù bọn đế quốc sâu sắc, Bí thư Thành ủy Trần Quý Kiên đã cùng Đảng bộ Hà Nội xây dựng mới một loạt các cơ sở và tổ chức Đảng, tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị, hướng dẫn phối hợp đấu tranh của các nghiệp đoàn công nhân 'Ái Hữu', bồi dưỡng và kết nạp thêm nhiều đảng viên cho Đảng bộ Hà Nội. Trên cương vị ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ Bí thư Thành ủy Hà Nội, giữa năm 1938, ông Trần Quý Kiên trực tiếp về thành lập chi bộ Đảng 'đầu tiên' của hai tỉnh liền kề với Hà Nội là Sơn Tây và Hà Đông. Ông về Sơn Tây công nhận "chi bộ dự bị" Đa Phúc, do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư, là "chi bộ chính thức" của Đảng. Ông cũng giao nhiệm vụ cho chi bộ lãnh đạo phong trào cách mạng trong nhân dân tỉnh Sơn Tây và hoạt động theo sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội. Ngày 15/5/1938, tại tỉnh Hà Đông, Trần Quý Kiên trực tiếp thành lập "chi bộ ghép" La Cả - Đại Mỗ - Thượng Phát, kết nạp ba đảng viên mới và cử đồng chí Dương Nhật Đại làm Bí thư chi bộ. Ông thay mặt Xứ ủy giao nhiệm vụ cho chi bộ lãnh đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh, đồng thời lập ban vận động thành lập Đảng bộ tỉnh Hà Đông.

Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, của Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Trần Quý Kiên và Đảng bộ Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động trực tiếp đấu tranh mang tính xã hội rộng lớn chống lại chính sách mị dân của thực dân Pháp. Tại Việt Nam, lần đầu tiên lễ kỷ niệm Ngày Lao động 1-5 được tổ chức công khai với quy mô lớn tại Hà Nội. Chính quyền thực dân tìm mọi cách đe dọa, nhưng không ngăn cản được sức mạnh của quần chúng. Đúng 16 giờ ngày 1-5, cuộc mít tinh công khai có 25.000 người dự, gồm đầy đủ đại biểu của các giai cấp, tầng lớp nhân dân Thủ đô, được tổ chức trọng thể tại khu Đấu Xảo, Hà Nội (nay là Cung Văn hóa Hữu nghị). Các đại biểu công khai vạch trần chính sách bóp nghẹt tự do dân chủ, đàn áp, bóc lột tàn nhẫn của chính quyền thuộc địa phản động. Đồng thời, Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội cũng thành lập Hội truyền bá quốc ngữ, mở các lớp học miễn phí cho tất cả những người không biết chữ, in sách giáo khoa phát cho người học. Dưới sự ủng hộ của Đảng bộ Hà Nội, đại biểu của Mặt trận Dân chủ Đông Dương giành thắng lợi trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ và Hội đồng Thành phố Hà Nội. Thắng lợi của những cuộc bầu cử trên chứng tỏ đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương và tổ chức lớn mạnh của Đảng bộ Hà Nội, ảnh hưởng chính trị của Đảng, của Mặt trận ngày càng cao ngay cả trong các tầng lớp trung gian và tầng lớp trên. Nhân kỷ niệm 150 năm ngày Cách mạng tư sản Pháp (14/7/1789 – 14/7/1939), tại Hà Nội, Thành ủy chủ trương tổ chức mít tinh tại Nhà hát thành phố. Trong bài diễn văn bằng tiếng Pháp, trước đông đảo quần chúng, diễn giả đã lồng thêm nội dung tố cáo thực dân bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, đòi phòng thủ Đông Dương, đòi cho thanh niên có công ăn việc làm... Trước ngày 14-7, Thành ủy tổ chức diễn thuyết trước cửa đền Ngọc Sơn, hơn 1.000 người dự. Sau đó, Thành ủy Hà Nội phát động quần chúng chống âm mưu "Trở lại Hiệp ước 1884", âm mưu đặt Bắc Kỳ dưới quyền cai trị của triều đình Huế… Phong trào đấu tranh trên đạt được thành công có vai trò, đóng góp của Uỷ viên Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Qúi Kiên.

Cuối năm 1939, thực dân Pháp khủng bố gắt gao. Chỉ trong hai tháng, chúng đã tổ chức nhiều cuộc truy tìm, khám xét nơi ở và cơ quan làm việc của ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Qúi Kiên hòng bắt ông để ngăn chặn phong trào cách mạng, nhưng chúng đều thất bại. Ngày 8-9-1939, thực hiện quyết định Hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ ra nghị quyết về rút vào bí mật, ông Trần Quý Kiên được phân công nhiệm vụ "xây dựng căn cứ bí mật của Đảng" tại Phù Ninh - Phú Thọ. Tại đây, ông và ông Lương Khánh Thiện đã "gieo những hạt giống cách mạng đầu tiên" với hai cơ sở cách mạng là Trạm Thản và Cẩm Sơn. (Đây là sự kiện đánh dấu mốc ra đời của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ).

Tháng 6 -1940, ông bị thực dân Pháp bắt khi đang hoạt động tại Bắc Giang. Ông lần lượt bị giam tại nhà lao Bắc Giang, nhà tù Hỏa Lò, nhà đày Sơn La, căng Nghĩa Lộ...Với tình yêu nước thiết tha và ý chí cách mạng mãnh liệt, trong thời gian bị thực dân Pháp bắt và gian giữ lần thứ hai, ông đã thể hiện tinh thần kiên trung, bản lĩnh cách mạng, cùng các  đồng chí  lãnh đạo bị giam giữ lanh đạo tù nhân chống chế độ nhà tù hà khắc của thực dân, đòi cải thiện chế độ nhà tù và lãnh đạo bên ngoài nhà tù đấu tranh đòi các quyền dân sinh hướng tới mục tiêu giành độc lập dân tộc. 

Tháng 3 năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ông đã vượt ngục của thực dân sau 5 năm bị giam cầm (lần thứ hai). Mặc dù sức khỏe đã yếu đi nhiều trong những năm tháng ở lao tù, ông vẫn tiếp bước đi theo con đường của Đảng, giành độc lập dân tộc. Ngay sau khi ra tù, ông được phân công làm Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung. Ngày 15/5/1945, ông Trần Quý Kiên triệu tập hội nghị thành lập tỉnh ủy 'lâm thời' của tỉnh Ninh Bình, cử đồng chí Lê Thành (tức Nguyễn Văn Mộc) làm Bí thư Tỉnh ủy. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, ông đã cùng ông Văn Tiến Dũng (Ủy viên thường trực Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ - chỉ huy quân sự của chiến khu) lãnh đạo xây dựng lực lượng, tiến tới giành chính quyền ở ba tỉnh (Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa). Do mọi việc được chuẩn bị kỹ từ trước nên việc giành chính quyền tại các tỉnh trong chiến khu đạt được thắng lợi rực rỡ và mau lẹ. Sau đó, ông là đại diện cho Xứ ủy Bắc Kỳ và Chính phủ, trực tiếp lãnh đạo giành chính quyền ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu.

Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa. Với năng lực và kinh nghiệm lãnh đạo lãnh đạo, tinh thần trách nhiệm cảo và bản lĩnh được tôi luyện trong quá trình hoạt động cách mạng liên tục, ông được Đảng giao phó nhiều trong trách, góp phần cùng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo sự nghiệp  kháng chiến – kiến quốc vĩ đại của dân tộc. Ông được phân công làm Bí thư Liên tỉnh kháng chiến Quảng Hồng, kiêm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Yên (Quảng Ninh) năm 1946; ủy viên Liên khu ủy Liên khu Việt Băc, Bí thư Đảng ủy Liên chi bộ - Trưởng ban căn cứ địa của Liên khu Việt Bắc năm 1949 -1950; Thứ trưởng - Phó Văn phòng Thủ tướng phủ (của Thủ tướng Hồ Chí Minh) năm 1950, Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng 1951, Bí thư đầu tiên của Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương 1952….Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau một thời gian dưỡng bệnh, đông ông tham gia công tác sửa sai sau Cải cách ruộng đất, làm Thứ trưởng thứ nhất bộ Thủy Lợi và điện lực…. Năm 1965, ông mất tại Hà Nội. 

Nhìn lại qua trình hoạt động cách mạng của ông Trần Qúi Kiên, có thể thấy, cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với các chặng đường cách mạng và những thắng lợi của Đảng, của dân tộc Việt Nam. Đó là một cuộc đời phấn đấu không mệt mỏi, luôn phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm của một đảng viên thế hệ đầu tiên của Đảng, hoạt động cách mạng liên tục và giữ nhiều vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước. Dù ở cương vị nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp xuất sắc cho Đảng, cho cách mạng Việt Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng không mệt mỏi đó, ông đã hoạt động cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, tiền bối tiêu biểu, đặc biệt là cùng 4 Tổng Bí thư của Đảng là Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh và Nguyễn Văn Linh. Ông đã đào tạo được nhiều chiến sĩ xuất sắc cho Đảng, trực tiếp giác ngộ, bồi dưỡng, dìu dắt và kết nạp Đảng nhiều chiến sĩ cách mạng, mà sau này trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng như: ông Văn Tiến Dũng (Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), ông Hoàng Minh Giám (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao),.. cũng nhiều nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông bị giam cầm, tra tấn 11 năm tù ở nhiều nhà tù khác nhau (riêng tại địa ngục Sơn La là 3 lần). Với lòng yêu nước thiết tha, bản lĩnh kiên cường và ý chí cách mạng mãnh liệt, ông luôn vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên trung, giữ vùng khí tiết, phẩm giá của người chiến sĩ cộng sản, tiếp tục thực hiện trách nhiệm của người lãnh đạo trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt.

Do có công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, ông Trần Qúi Kiên được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên ông cũng đã được đặt cho nhiều con đường và công trình ở các thành phố lớn trong cả nước.

*

Có thể nói, chính truyền thống yêu nước của dân tộc, những giá trị cao đẹp về văn hóa của mảnh đất và con người Hà Nội, truyền thống gia đình là nền tảng, là bệ đỡ, hun đúc nên lòng yêu nước, nhiệt huyết cách mạng của ông Trần Qúi Kiên, dẫn đến đến sự hình thành lý tưởng cách mạng, hoài bão và khát vọng cháy bỏng được cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thúc đẩy ông đến với Đảng, trở thành đảng viên thế hệ đầu tiên; là hành trang theo suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, tiếp sức cho ông đấu tranh trong lao tù, là động lực giúp ông hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.  

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động của ông Trần Quý Kiên là niềm tự hào, cũng là “tài sản” lớn nhất, quí nhất, lâu bền nhất của gia đình chúng tôi. Tự hào về ông, chúng tôi càng cảm phục, tự hào, và biết ơn đối với các thế hệ lãnh đạo, thế hệ đảng viên đã cống hiến, hy sinh để đất nước Việt Nam “nở hoa độc lập, kết trái tự do” và đang như ngày càng giàu đẹp, rạng rõ hôm nay./  

 

 

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 19
Hôm qua : 400
Tháng này : 1050
Tổng truy cập : 4781069
Đang trực tuyến : 6