Liên kết web
 
Quảng cáo
 
Quảng cáo
 
Các dân tộc sơn la
Dân tộc Kinh

Dân tộc Kinh còn gọi là người Việt, ở Sơn La là nhóm đông thứ hai, chiếm 18% dân số toàn tỉnh. Dân cư tập trung ở các khu đô thị, thị tứ. Tiếng Kinh thuộc ngôn ngữ Việt - Mường.

Dân tộc Thái

Dân tộc Thái là cộng đồng đông nhất ở Sơn La, chiếm 54% dân số, gồm các nhóm Tay Đăm (Thái đen) và Tay Khao (Thái trắng). Ngôn ngữ tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái. Trang phục đồng bào Thái: Nam giới mặc âu phục, vải thổ cẩm. Phụ nữ mặc áo cóm, váy, khăn piêu, với lối trang sức truyền thống riêng rất đặc sắc. Người Thái ở nhà sàn, mỗi bản có từ 40- 60 nóc nhà kề bên nhau. Bản của người Thái thường ở vùng thấp, gần nguồn nước, gắn với sản xuất ruộng nước.

Dân tộc Lào

Tên gọi khác là dân tộc Lào Bốc, Lào Nọi, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái. Dân số 9600 người.  Cư trú tập trung tại các huyện của Điện Biên, Phong Thổ (Lai Châu), Sông Mã (Sơn La) . Than Uyên (Lào Cai).

Dân tộc Hoa

Dân tộc Hoa còn gọi là Hán, gồm những nhóm khác biệt nhau nhất định về tiếng nói, tên gọi, lịch sử di cư. Đồng bào Hoa ở tỉnh ta hiện nay không nhiều, cư trú chủ yếu ở các thị trấn, thị xã, làm nghề buôn bán nhỏ, mở hàng ăn.Trong gia đình người Hoa, chồng là chủ hộ; cha mẹ là người quyết định hôn nhân cho con cái. Người Hoa thích “Sơn ca” (san của), ca kịch; ngày tết thường biểu diễn múa sư tử, múa quyền thuật và nhiều phong tục dân gian đặc sắc.

Dân tộc Kháng

Tên gọi khác:  Háng, Xá, Brển.

Tên tự gọi: Mơ Kháng.
Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi...